Tìm hiểu nuôi cá an toàn theo qui trình SQF khả năng ứng dụng ở Tiền Giang

(Số 7 năm 2006)

Tìm hiểu nuôi cá an toàn theo qui trình SQF khả năng ứng dụng ở Tiền Giang

NGUYỄN VĂN RE

Phó GĐ Sở KH-CN.TG

 

Nuôi cá theo qui trình SQF là áp dụng những tiêu chuẩn nghiêm ngặt, gồm 5 thành phần được chọn lựa: bộ phận cung cấp giống - bộ phận nuôi - nhà cung cấp thức ăn và nhà cung cấp thuốc thú y thủy sản - vùng nuôi được quy hoạch - người nuôi được đi học tham gia liên hợp sản xuất. Sản phẩm làm ra được tổ chức Quốc tế như SGS cấp giấy chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm, không sợ ế hàng vì đã được ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm. Không sợ hàng xuất khẩu bị trả về vì có sự tham gia từ đầu của đối tác tiêu thụ ở nước ngoài. Về phía doanh nghiệp muốn tham gia vào quy trình nầy cũng phải đạt những tiêu chuẩn như: Doanh nghiệp chế biến tiêu chuẩn chất luợng SQF 2000CM; doanh nghiệp cung cấp thức ăn đạt tiêu chuẩn HACCP, ISO; doanh nghiệp cung ứng thuốc thú y thủy sản thì phải đạt tiêu chuẩn ISO, GMP. Như Công ty Agifish chọn nhà cung cấp thức ăn là công ty Proconco, thuốc thú y thủy sản là Vemedim Cần Thơ. Tổ hợp nầy khép kín cho ra đời cá an toàn. Sau đây là những vấn đề liên quan đến hệ thống tiêu chuẩn SQF:

1) Các xu thế an toàn cho thủy, hải sản:

- Sáng kiến liên tục về an toàn và chất lượng thực phẩm giúp tăng cường sự hiểu biết và kiểm tra các nguồn nguyên liệu thô cũng như huấn luyện cho các nhân viên.

- Khả năng truy tìm sản phẩm và các Chương trình quản lý hợp nhất là một phần thiết yếu trong dây chuyền sản xuất thực phẩm.

- Các vấn đề liên quan đến việc sử dụng chất kháng sinh và chất hóa học đang gia tăng.

- Mối quan tâm về an toàn thực phẩm và những sản phẩm không đạt chất lượng ngày càng gia tăng.

- Nhiều tổ chức buộc phải có quyền sở hữu về an toàn thực phẩm.

- Những hệ thống nhóm môi trường thông qua các hiệp hội công nghiệp, những ban phát triển thị trường và các tổ chức nông nghiệp đang gia tăng trên toàn cầu.

2) Bộ tiêu chuẩn chất lượng SQF:

- Là bộ tiêu chuẩn dựa trên HACCP được thiết kế cho ngành công nghiệp thực phẩm.

- Đó là sự thống nhất với những nhà huấn luyện được đăng ký và những chuyên gia đánh giá có bằng cấp về thực phẩm an toàn được công nhận bởi những bên quốc tế thứ ba.

- Tập trung vào thị trường - giải quyết những mối nguy cho chất lượng cùng với những mối nguy cho an toàn thực phẩm.

- Biểu tượng SQF có thể được sử dụng trên sản phẩm hoặc bao bì trung gian.

- Được viện SQF ở Lausanne (Thụy Sĩ) chính thức công nhận, như là một hệ thống chứng nhận công khai.

3) Bộ tiêu chuẩn chất lượng an toàn SQF 1000CM:

 Đây là một bộ tiêu chuẩn dựa trên HACCP bảo đảm cho nhà cung cấp trong công nghệ thực phẩm. Nó được phát triển đáp ứng nhu cầu kỹ nghệ cho một Chương trình bên thứ ba đánh giá nhà cung cấp. Tiêu chuẩn nầy cung cấp cho nhà cung cấp nguyên liệu, Chương trình chủ yếu sẽ triển khai thực hiện:

- Công tác quản lý quy trình chế biến và rủi ro được cải thiện và quản lý tốt hơn.

- Giảm các chi phí bảo hiểm.

- Giảm lãng phí.

- Các nông dân có thể chứng minh rằng:

Thực hiện một cách lâu dài những tiêu chuẩn có thể bao gồm GAP, GAA hoặc các Chương trình khác.

Họ có trách nhiệm với môi trường.

Ở Tiền Giang nghề nuôi cá tra cũng đang phát triển mạnh và trên địa bàn tỉnh đã có Công ty chế biến thủy sản xuất khẩu Hùng Vương sẵn sàng bao tiêu toàn bộ sản phẩm cá tra do nông dân sản xuất. Hiện thị trường xuất khẩu của công ty rất rộng rãi có khả năng tiêu thụ hàng chục ngàn tấn nguyên liệu cá tra hàng năm và công ty đang đặt nhiều điểm thu mua sang các tỉnh bạn như Đồng Tháp, Vĩnh Long,… Tuy nhiên để đảm bảo xuất khẩu mặt hàng cá tra chế biến được ổn định và bền vững lâu dài thì ngành nuôi thủy sản Tiền Giang nói chung và nuôi cá nói riêng phải đi theo hướng sản xuất ra sản phẩm an toàn. Xuất phát từ yêu cầu thực tế của thị trường xuất khẩu thủy sản theo định hướng trên nên năm 2006 UBND tỉnh Tiền Giang đã phê duyệt cho phép ngành thủy sản tỉnh nhà được thực hiện “Chương trình hỗ trợ áp dụng tiêu chuẩn SQF 1000 cho vùng nuôi cá tra tỉnh Tiền Giang”, trước mắt thực hiện đề tài “Xây dựng mô hình áp dụng tiêu chuẩn SQF cho vùng nuôi cá tra thuộc khu vực cồn Cổ Lịch xã Hòa Hưng - huyện Cái Bè với diện tích 20 ha”, kinh phí hỗ trợ từ nguồn sự nghiệp khoa học và công nghệ của tỉnh.

Tại cồn Cổ Lịch đang có những hộ nông dân được Công ty Hùng Vương hỗ trợ vốn nuôi cá tra phục vụ cho chế biến xuất khẩu, có hộ đạt năng suất trên 200tấn/ha/vụ, ước khoảng 300tấn/ha/năm. Mô hình thử nghiệm ở đây phải đạt các yêu cầu sau:

- Về mục tiêu:

+ Xây dựng vùng nuôi cá tra an toàn với diện tích 20ha, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng trong và ngoài nước.

+ Đáp ứng yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm của các thị trường nhập khẩu, đặc biệt là việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

+ Tránh thiệt hại cho người nuôi và nhà sản xuất do sản phẩm có chứa dư lượng các chất có hại vượt quá giới hạn cho phép, gắn với quản lý vùng nuôi.

+ Chứng nhận sản phẩm cá tra đạt tiêu chuẩn SQF 1000 cho hộ và nhóm hộ nuôi trong vùng nuôi.

- Về nội dung, tiến hành qua 10 bước:

Bước 1: Đào tạo chuyên viên thực hành SQF 1000 đảm bảo thống nhất sự hiểu biết các tiêu chuẩn, mục đích là phát triển nguồn lực cho tỉnh nhà. Đây là các chuyên viên nòng cốt được đào tạo sẽ phụ trách đào tạo, hướng dẫn cho các cụm bè, ao đăng quầng trên khu vực nuôi.

Bước 2: Hội thảo các qui tắc hành xử, chọn các chuyên gia am hiểu toàn bộ dây chuyền nuôi trồng và chế biến để xác định các vấn đề hiện tại và tiềm ẩn.

Bước 3: Xem xét và xét duyệt Quy tắc hành xử sau khi soạn thảo và thu thập ý kiến đóng góp của các cá nhân, tổ chức liên quan.

Bước 4: Soạn thảo kế hoạch tổng thể.

Bước 5: Xây dựng sổ tay chất lượng và duyệt Qui tắc hành xử.

Bước 6: Duyệt sổ tay chất lượng để đảm bảo các văn bản và Hệ thống quản lý chất lượng đáp ứng các yêu cầu của tiêu chuẩn SQF 1000.

Bước 7: Xây dựng sổ tay đào tạo cho nông dân.

Bước 8: Đào tạo giảng viên để đào tạo cho các hộ nuôi.

Bước 9: Đào tạo đánh giá viên nội bộ.

Bước 10: Chứng nhận và cấp giấy chứng chỉ QSF cho từng nhóm, hộ nuôi.

Như vậy, nếu xây dựng mô hình thành công Tiền Giang sẽ có khoảng 5.000 tấn/năm cá tra an toàn đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Đến năm 2010 chỉ cần nhân rộng mô hình nầy ra 4-5 địa điểm trên toàn tỉnh là Tiền Giang đã có 20-25 ngàn tấn/năm cá tra an toàn đủ cung cấp cho các nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu của tỉnh, mà còn có khả năng tạo điều kiện cho họ mở rộng qui mô nhà máy và thị trường xuất khẩu.

Từ kinh nghiệm thực tế của tỉnh An Giang, kết hợp với các điều kiện về vị trí địa lý, thổ nhưỡng và môi trường sinh thái thì Tiền Giang có đầy đủ khả năng để thực hiện Chương trình nuôi cá tra an toàn theo tiêu chuẩn SQF, chỉ cần có quyết tâm cao của các ngành chức năng, các địa phương và sự đồng thuận của nhân dân thì kết quả mang lại sẽ đạt được như ý muốn. Do vậy, ngành chức năng và địa phương cần tăng cường vận động, tuyên truyền tập huấn và có chính sách hỗ trợ thỏa đáng để động viên nhân dân thực hiện. Vì chỉ có con đường sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất thủy sản nói riêng theo hướng bền vững thì cuộc sống của nông dân mới được ổn định và từng bước được nâng lên. Đây cũng là định hướng mà tỉnh Tiền Giang lấy ngành thủy sản làm mũi nhọn trong các Chương trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2010 và tầm nhìn lâu dài cho những năm về sau.

Các bài cùng số khác

Xem tập san ở số   năm
 
 

Văn phòng TBT
Trung tâm nghiên cứu ứng dụng dịch vụ Khoa học - Công nghệ Tiền Giang
Phòng thử nghiệm chất lượng
Chợ công nghệ và thiết bị Việt Nam